Thực tế, nhiều người dân gặp khó khăn khi nộp đơn khởi kiện vì Tòa án yêu cầu cung cấp căn cước công dân (CCCD) của người bị kiện. Vậy yêu cầu này có đúng luật không? Nếu không có CCCD của đối phương, có nộp đơn khởi kiện dân sự được không? Hãy cùng Luật Minh Tú phân tích chi tiết dưới góc nhìn pháp lý cập nhật năm 2026.

1. Quy định pháp luật hiện hành về hồ sơ khởi kiện
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS), khi làm đơn khởi kiện dân sự, người khởi kiện chỉ bắt buộc phải cung cấp các thông tin sau đây về người bị kiện:
- Họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính của người bị kiện (nếu là cá nhân).
- Địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện (nếu có). Luật chỉ yêu cầu “nếu có”, không phải điều kiện bắt buộc.
- Trường hợp không rõ nơi cư trú, ghi rõ địa chỉ nơi cư trú cuối cùng đã biết.
Bên cạnh đó, Khoản 5 Điều 189 BLTTDS cũng nêu rõ về danh mục tài liệu kèm theo đơn khởi kiện dân sự. Nếu vì lý do khách quan không thể nộp đủ, người khởi kiện chỉ cần nộp tài liệu hiện có và bổ sung sau. Điều luật này không có yêu cầu phải nộp bản sao giấy tờ nhân thân (CCCD/hộ khẩu) của người bị kiện.
Đối chiếu sang Điều 192 BLTTDS về các trường hợp Tòa án được phép trả lại đơn khởi kiện, lý do “thiếu CCCD của người bị kiện” không nằm trong danh mục này. Do đó, việc Tòa án từ chối nhận đơn hoặc trả lại hồ sơ chỉ vì thiếu CCCD của bên bị là hoàn toàn không có căn cứ pháp lý.

2. Tại sao Tòa án vẫn yêu cầu CCCD dù luật không quy định?
Dù không có cơ sở trong luật, thực trạng các Tòa án yêu cầu bổ sung CCCD của người bị kiện khi nộp đơn khởi kiện vẫn phổ biến do các nguyên nhân thực tiễn sau:
- Xác định thẩm quyền giải quyết: Tòa án cần biết nơi cư trú của người bị kiện để xác định thẩm quyền theo lãnh thổ (Điều 39 BLTTDS). Tuy nhiên, địa chỉ ghi trên đơn đã đủ để xác định sơ bộ, việc xác minh chi tiết thuộc về giai đoạn sau khi thụ lý.
- Phục vụ công tác tống đạt: Cán bộ Tòa án muốn có số CCCD để đảm bảo gửi văn bản tố tụng đúng người, tránh nhầm lẫn danh tính.
- Thói quen hành chính: Do thiếu văn bản hướng dẫn thống nhất từ Tòa án nhân dân (TAND) Tối cao về danh mục hồ sơ chuẩn, nhiều cán bộ tiếp nhận đơn vẫn áp dụng theo thói quen hoặc hướng dẫn nội bộ riêng.
3. Người khởi kiện cần làm gì khi gặp tình huống này?
Khi bộ phận tiếp nhận đơn của Tòa án yêu cầu bổ sung CCCD của người bị kiện, người khởi kiện có thể thực hiện các bước sau:
- Khẳng định lại quy định pháp luật: Trình bày với cán bộ tiếp nhận rằng Khoản 4 Điều 189 BLTTDS không quy định phải nộp CCCD của người bị kiện, và Điều 192 BLTTDS không liệt kê lý do này trong các trường hợp được phép trả lại đơn.
- Nộp kèm văn bản giải trình: Trường hợp Tòa án ra thông báo bổ sung, nộp kèm một văn bản giải trình có dẫn chiếu cụ thể điều luật, nêu rõ lý do không thể thu thập CCCD của người bị kiện và đề nghị Tòa án thực hiện xác minh theo Điều 97, 106 BLTTDS.
- Khiếu nại quyết định trả lại đơn: Nếu Tòa án vẫn chính thức trả lại đơn, người khởi kiện có quyền khiếu nại trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Chánh án Tòa án có trách nhiệm giải quyết khiếu nại trong vòng 5 ngày làm việc.
4. Tính bất khả thi khi bắt người dân thu thập CCCD của người khác
Yêu cầu người khởi kiện phải tự mình đi thu thập thông tin CCCD của người bị kiện là điều không tưởng trên thực tế bởi hai lý do:
4.1 Bên bị kiện không có nghĩa vụ hợp tác
Không có quy định pháp luật nào buộc một người phải cung cấp bản sao CCCD của mình cho người có ý định kiện họ. Đồng thời, không ai sẵn sàng cung cấp bản sao CCCD cho người đang có ý định khởi kiện mình ra Tòa.
4.2 Quy định bảo mật dữ liệu cá nhân rất nghiêm ngặt
Theo Luật Căn cước 2023 và Nghị định 356/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ 01/01/2026) về bảo vệ dữ liệu cá nhân, các cơ quan đăng ký cư trú (Công an xã/phường) tuyệt đối không cung cấp thông tin cá nhân của công dân cho cá nhân khác nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của người đó.
Cơ quan chức năng chỉ cung cấp thông tin khi có văn bản yêu cầu chính thức từ Tòa án hoặc Viện kiểm sát. Điều này vô tình tạo ra một “vòng lặp luẩn quẩn”: Tòa án đòi người dân nộp tài liệu mà chỉ có chính Tòa án mới có thẩm quyền đi thu thập.
4.3 Tòa án có đầy đủ cơ chế tự xác minh sau khi thụ lý đơn
Người dân không cần và không thể tự đi tìm số CCCD của đối phương, bởi vì BLTTDS 2015 đã đủ quyền hạn cho Tòa án thực hiện việc này sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện dân sự:
- Theo Điều 97 BLTTDS: Tòa án có quyền tự mình xác minh, thu thập chứng cứ khi xét thấy cần thiết, bao gồm việc yêu cầu cơ quan công an cung cấp thông tin cư trú, nhân thân của đương sự.
- Theo Điều 106 BLTTDS: Các cơ quan, tổ chức đang quản lý dữ liệu có nghĩa vụ phải cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu.
- Ứng dụng công nghệ: Với sự phát triển của Cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia (VNeID) tính đến năm 2026, các cơ quan tiến hành tố tụng hoàn toàn có thể chủ động tra cứu, kết nối thông tin nhân thân một cách nhanh chóng mà không cần đặt gánh nặng lên vai người dân.
6. 7 Câu hỏi thường gặp khi nộp đơn khởi kiện dân sự không có CCCD
5.1. Mẫu đơn khởi kiện dân sự bắt buộc phải ghi số CCCD của người bị kiện không?
Không. Theo mẫu đơn khởi kiện chuẩn ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP và Điều 189 BLTTDS 2015, phần thông tin người bị kiện chỉ bắt buộc ghi Họ tên và Địa chỉ nơi cư trú/làm việc, không bắt buộc phải ghi số định danh cá nhân hay số CCCD.
5.2. Tôi có thể xin Công an xã cấp thông tin cư trú của người tôi muốn kiện không?
Không thể. Từ ngày 01/01/2026, Nghị định 356/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân kiểm soát rất chặt chẽ việc này. Cơ quan Công an sẽ từ chối cung cấp thông tin cá nhân, nơi ở của công dân cho một cá nhân khác nếu không có văn bản yêu cầu hoặc yêu cầu trích lục từ phía Tòa án.
5.3. Nếu chỉ có ảnh chụp hoặc bản photo CCCD của người bị kiện thì có nộp kèm đơn được không?
Được. Đây được xem là “căn cứ khác chứng minh địa chỉ” theo tinh thần của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP. Tòa án không có quyền từ chối hồ sơ với lý do hình ảnh/bản photo này chưa được công chứng, chứng thực.
5.4. Tòa án ra thông báo sửa đổi bổ sung yêu cầu nộp CCCD bên bị thì có thời hạn bao lâu?
Thông thường, Thẩm phán sẽ ấn định một khoảng thời gian (không quá 1 tháng, trường hợp đặc biệt có thể gia hạn thêm nhưng không quá 15 ngày) để bạn bổ sung. Tuy nhiên, thay vì tìm kiếm CCCD, bạn nên nộp văn bản giải trình lý do không thể thu thập để Tòa án tiến hành xác minh.
5.5. Việc Tòa án kéo dài thời gian nhận đơn vì thiếu CCCD ảnh hưởng gì đến quyền lợi của tôi?
Việc này làm chậm tiến trình thụ lý vụ án, gián tiếp gây kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp và có rủi ro làm ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện (thời hạn mà pháp luật cho phép bạn quyền yêu cầu Tòa án giải quyết).
5.6. Luật Minh Tú có hỗ trợ dịch vụ soạn đơn khởi kiện dân sự không?
Có. Công ty Luật TNHH Minh Tú cung cấp dịch vụ pháp lý trọn gói: từ khâu tư vấn, soạn thảo đơn khởi kiện dân sự đúng chuẩn, hỗ trợ thu thập chứng cứ hợp pháp, đến đại diện ủy quyền làm việc và thực hiện các thủ tục tố tụng tại Tòa án để bảo vệ lợi ích cho khách hàng.
Nếu bạn đang gặp vướng mắc trong các thủ tục làm đơn khởi kiện dân sư, hãy liên hệ với Luật Minh Tú để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời, chính xác.

